Các nghiên cứu và ứng dụng của Enzyme β- mannanase

1. Giới thiệu

 Enzyme β-mannanase có công dụng giúp tiêu hoá và đồng hoá protein trong cơ thể, kích thích cơ thể tạo ra các chất giúp hỗ trợ các chức năng gan và ruột cho vật nuôi. Ngoài ra, bổ sung enzyme β-mannanase vào thức ăn còn giúp tăng độ dày cơ và chiều dài nhung mao – nơi giữ vai trò trao đổi chất, hấp thu các chất dinh dưỡng và chống lại vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào máu thông qua đường ruột.

 2. Nuôi cá dìa chân gai ( Siganus rivulatus ) con bằng enzyme β-mannanase

– Thí nghiệm này được thực hiện để đánh giá tác động của enzyme β-mannanase trong chế độ ăn đối với hiệu suất tăng trưởng, khả năng miễn dịch, tính toàn vẹn của ruột và khả năng chịu mặn của cá dìa chân gai ( Siganus rivulatus) cá con được cho ăn chế độ ăn đậu nành.
– Khẩu phần cơ bản (protein, 400 g/kg; năng lượng thô, 20 MJ/kg) được bổ sung 0,0 (đối chứng), 0,2, 0,5 hoặc 0,8 g β-mannanase/kg để xây dựng bốn khẩu phần thí nghiệm. Mỗi nghiệm thức bao gồm ba lồng lưới với 50 con cá mỗi lưới. Thí nghiệm kéo dài trong 8 tuần.
– Kết quả cho thấy tất cả các mức β-mannanase đã cải thiện đáng kể năng suất tăng trưởng so với đối chứng. Bổ sung β-mannanase ở mức 0,5 g/kg khẩu phần cho kết quả tốt nhất về năng suất sinh trưởng, tỷ lệ sống và hiệu quả sử dụng thức ăn. Kết quả cũng chỉ ra rằng, β-mannanase đã cải thiện các hoạt động của protease, lysozyme, esterase, immunoglobulin và phosphatase kiềm, đồng thời làm giảm hoạt động của alanine aminotransferase và aspartate aminotransferase so với đối chứng. Hơn thế nữa, β-mannanase đã cải thiện đáng kể hình thái ruột bằng cách tăng độ dày cơ và chiều dài nhung mao. Thử thách độ mặn cho thấy bổ sung β-mannanase ở chế độ ăn 0,2 và 0,5 g/kg làm tăng đáng kể tỷ lệ sống của cá so với chế độ ăn 0,8 và 0,0 g/kg.
==> Tóm lại, việc đưa β-mannanase vào khẩu phần ăn của cá dìa đã giúp cải thiện năng suất tăng trưởng, miễn dịch không đặc hiệu, hình thái đường ruột và chất lượng cá.

 3. Enzyme ß-mannanase tăng hiệu quả chăn nuôi với khẩu phần không sử dụng kháng sinh

– Từ lâu β-mannans đã được biết đến là một yếu tố kháng dinh dưỡng (Couch et al, 1967, Ray et al, 1982, Verma và McNab, 1982), từ cản trở sự hấp thụ các chất đường bột cho đến làm giảm hấp thụ nước ở đại tràng (Nunes và Malmlof, 1992, Rainbird et al, 1984).
β-mannanase là enzyme phân giải beta-mannan, Beta-mannan có mặt trong bã nành và một số nguyên liệu thực vật khác. Các thí nghiệm trên heo được tiến hành ở các giai đoạn phát triển khác nhau, kết quả cho thấy ß-mannanase có tác động tích cực đến hiệu quả chăn nuôi (Petty et al, 2002, Hahn et al, 1995, Van Heugten, 2000).
– Làn sóng phản đối việc sử dụng các chất kích thích tăng trưởng đã thu hút sự quan tâm đến các phương án thay thế tối ưu hóa năng suất chăn nuôi nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm. Nhiều bằng chứng cho thấy ß-mannanase là một lựa chọn khả thi trong trường hợp không muốn sử dụng thuốc kháng sinh. Trong hai nghiên cứu gà thịt Broiler gần đây, ß-mannanase đã cho thấy sự cải thiện năng suất đáng kể và kháng được cầu trùng Eimeria sp. và vi khuẩn Clostridium perfringens (Mathis et al, 2002) giúp giảm tổn thương đường ruột ở gia cầm. Trong trường hợp không có thuốc kháng sinh, Piao et al, (2003) kết luận rằng ß-mannanase đã giúp cải thiện năng suất tương tự như khi tăng 100 kcal/kg ME trong khẩu phần ăn ở gà đến 54 ngày tuổi. Trong một cuộc khảo sát tăng trưởng ở heo đã sử dụng tổng số 5350 con heo, O Quinn et al, 2002 quan sát thấy rằng ß-mannanase đã cải thiện 3,2% ADG. Ngoài ra còn để lại nhiều ấn tượng khác như giảm đáng kể tỷ lệ heo chết và tỷ lệ loại thải.
– Cơ chế của ß-mannanase trên động vật mang bệnh có khả năng liên quan đến việc giảm ß-mannan xâm nhập vào đường ruột. ß- mannans qua niêm mạc ruột là chất kích thích mạnh đối với hệ thống miễn dịch dẫn đến sự gia tăng của các đại thực bào và bạch cầu đơn nhân và hợp lực sản xuất cytokine. Chúng làm giảm lượng thức ăn và tiêu thụ chất dinh dưỡng. ß-mannans trong khô dầu đậu nành, nó tác dụng kích thích rất lớn lên hệ miễn dịch bẩm sinh. Zhang và Tizzard (1986) đã chứng minh rằng Acemannan kích thích đại thực bào, sản xuất cytokine và phóng thích oxit nitric trong các đại thực bào ở chuột.
– Việc không có khác biệt về hiệu suất giữa khẩu phần ăn NE cao không có enzyme và khẩu phần ăn NE thấp có enzyme cho thấy ß-mannanase có khả năng nâng cao khẩu phần ăn của heo xấp xỉ 150 Kcal / Kg NE hoặc khoảng 7% trong trường hợp không có thuốc kháng sinh. Theo các điều kiện của thí nghiệm này, dữ liệu cho thấy ß-mannanase có hiệu quả cao trong khẩu phần ăn của heo khi không sử dụng kháng sinh và có thể được sử dụng như một biện pháp tiết kiệm năng lượng.

Tại sao cần lựa chọn β- Mannanase

– Bổ sung enzymes vào khẩu phần ăn của gà thịt giúp giảm chất nhày đường ruột, cải thiện hấp thu chất dinh dưỡng, hỗ trợ vật nuôi tiêu hóa được các thành phần thực vật trong thức ăn mà chúng không thể tự tiêu hóa được như polysaccharides phi tinh bột (NSP).
– β-mannanase thúc đẩy tính đa dạng của vi khuẩn trong ruột non và manh tràng; đồng thời tăng số lượng OUT. β-mannanase điều chỉnh hệ vi khuẩn, tăng sinh lợi khuẩn nhu Lactobacillus, Ruminococcaceae và Akkermansia; giảm lượng vi khuẩn Bacteroides gây kém ăn ở gia cầm.
Nguồn: BQ&Q tổng hợp.
——————-
Để tìm mua sản phẩm enzyme β-mannanase nguyên liệu, quý khách có thể tham khảo sản phẩm Or – Beta với nồng độ enzyme lên đến 10.000 U/g. Sản phẩm do Công ty CP BQ&Q nhập khẩu và phân phối tại Việt Nam.
Ngoài ra, BQ&Q còn cung cấp các sản phẩm enyzme xử lý nước, enzyme tiêu hoá khác như: PROZYME, MICRO BATE, DYNAZYME